Khi Đất Cuối Trời Gieo Tin Mừng
Khi Đất Cuối Trời Gieo Tin Mừng
Tôi nhớ ánh mắt của những em thiếu nhi. Ngày đầu gặp, các em rụt rè, khép kín, cúi mặt tránh những câu hỏi. Vậy mà theo dòng ngày tháng, các em đã tự tin đọc Lời Chúa giữa cộng đoàn, giọng còn non mới nhưng chan chứa một niềm tin vừa chớm nở. Nếu có một quyển nhật ký ghi lại hành trình đức tin của các em, hẳn quyển nhật ký sẽ được bút chắp bằng nét chữ run run của những ngày đầu, rồi dần dần rõ nét hơn qua từng tuần. “Và phải chăng đời sống dâng hiến của tôi cũng giống như vậy!” Tôi nhớ những khuôn mặt xinh tươi mà trước kia thiếu hẳn một nụ cười, nay đã biết cười nói, biết sẻ chia với tôi những câu chuyện tuổi thơ giản dị. Tôi nhớ những ánh mắt ngượng ngùng của các em lớn hơn, nay đã dám mở lòng kể về gia đình mình – có buồn, có vui, có cả những vết thương chưa lành. Và tôi nhớ cái bắt tay ấm áp của những cụ già trong xóm đạo, những lời hứa mộc mạc “cùng ăn chén cơm, uống bát rượu đầy”, những tâm tình được trao đi và được lắng nghe bằng cả trái tim. Nhưng trên hết mọi biến chuyển ấy, điều tôi trân trọng nhất chính là sự thay đổi âm thầm nơi chính tôi – trong nhận thức, trong nỗ lực sống mỗi ngày cho trọn nghĩa một người được sai đi.
Thế nhưng, giữa những đổi thay đáng mừng ấy, tôi cũng nhận ra một cái bẫy rất tinh vi đang chờ đợi: cái bẫy của việc đóng vai vị thánh. Sẽ dễ dàng biết bao nếu tôi thầm cảm ơn một mùa hè chỉ vì “hè giúp tôi”, như thể mọi thành quả đều do công sức và sự khôn khéo của riêng mình. Nhưng không. Chính mùa hè này cũng cho tôi nếm trải không ít thất bại trong tương quan, những thử thách trong công việc, những lúc tôi mạnh bạo quá lời, thẳng thắn đến mức làm tổn thương người khác. Chính những vấp váp ấy đã nhắc tôi nhớ một sự thật cốt lõi: tôi không phải là Đấng Cứu Thế. Chỉ có một Đấng Cứu Thế duy nhất – Đấng đã yêu tôi trước, đồng hành với tôi trên mọi nẻo đường, tha thứ cho tôi không biết bao lần, đón nhận tôi trong sự yếu đuối, và nhìn thấu tận đáy lòng con người tôi mà vẫn không hề chê bỏ.
Tôi cảm tạ Ngài vì đã ban cho tôi những khoảnh khắc chẳng thể nào quên: lúc tôi ngồi xuống bên thềm nhà với một cụ già, nghe những câu chuyện đời đã bạc trắng theo năm tháng; lúc tôi đứng dưới bóng cây, lặng nghe tâm sự của một người trẻ đang loay hoay tìm hướng đi cho đời mình; và cả những lúc nước mắt tôi rơi xuống vì bao nỗi niềm không tên – của người khác, và của chính tôi. Những giọt nước mắt ấy không phải là dấu hiệu của yếu đuối, mà là dấu chỉ của một trái tim còn biết rung động trước phận người.
Chỉ khi tôi thôi bám víu vào những lời khen, thôi tìm kiếm sự công nhận như một thứ để tự trấn an mình, tôi mới có đủ khoảng trống trong tâm hồn để nhận ra trọn vẹn ý nghĩa của đời sống Thừa Sai Thánh Tâm. Và trong khoảng lặng ấy, tôi được nhắc nhớ một điều căn bản: tôi được sai đi, hơn là tôi truyền sai. Không phải tôi mang Chúa đến cho người khác bằng sức riêng, mà chính Chúa sai tôi đi, dùng tôi như khí cụ mọn hèn, để giữa vùng đất Cà Mau – nơi sông nước mênh mông, nơi những con người chân chất đang khát khao một Tin Mừng được sống thật – ánh sáng của Ngài có thể chạm đến từng tâm hồn qua chính sự bất toàn của tôi.
Mùa hè rồi sẽ qua, nhưng những hạt giống đã gieo sẽ còn ở lại: nơi ánh mắt em thiếu nhi đã biết mở lòng, nơi bàn tay cụ già đã siết chặt hơn tình nghĩa xóm làng, nơi chính tâm hồn tôi đã được uốn nắn lại cho khiêm nhường hơn, chân thật hơn. Tôi khép lại mùa hè bằng một lời tạ ơn lặng lẽ và một quyết tâm bước tiếp trên hành trình được sai đi – để rồi, Miễn Sao Đức Ki-Tô Được Rao Giảng, mọi sự còn lại chẳng còn quan trọng nữa.
18/7/2026, Giuse Nguyễn Lê Thế Vương.
Comments
Post a Comment